Mẹ
tôi yêu hoa thiên lý như yêu chồng con. Chả biết mầu xanh dìu dịu của
lá vả hương thơm nhẹ nhàng của hoa thiết tha là bao mà mẹ tôi âu yếm nó
thế.
Thường thường mẹ tôi trồng từng khóm. Mẹ bắc khum khum một cái
giàn. Chiều chiều mẹ xách nước tưới vào gốc cho cây chóng lớn. Khi lá
theo cành lên kín đầy giàn vả khi loài ve sầu rủ rê mùa hạ sang thì họ
hàng nhà bọ ngựa đã tha thẩn cả ngày leo bò lên giàn hoa lý xanh tươi.
Đối với tôi hồi còn bé có lẽ cây ổi chĩu nặng quả chín còn thú
vị hơn giàn hoa thiên lý của mẹ. Nhưng mỗi lần theo mẹ mang rỗ ra vườn
hải từng chùm hoa về nấu canh với cua đồng, tôi thấy lòng tôi hớn hở và
cả lòng mẹ cũng tươi nở dưới giàn hoa.
- Hoa thiên lý nấu với cua đồng ngon lắm cơ con ạ !
- Mùi nó làm sao ấy mẹ ạ ! Con ghét giàn hoa của mẹ ghê đi ấy, cây gì lại cây chẳng có quả. Mai con chặt nó đi mẹ nhé !
- Hư nào, tại con chưa biết ăn thì đừng bảo nó làm sao à ? Hôm nay con thử ăn mà xem, ngọt ngọt là.
- Ngọt như kẹo dồi chó không hở mẹ ?
Mẹ tôi cười đăm đăm nhìn tôi. Tia mắt hiền hòa ấy như tiếng ru
muôn đời có bao giờ định nghĩa được, nên ngày nay dù tôi không nhớ hết
kỷ niệm huy hoàng của thời thơ ấu thì tôi vẫn tự nhủ rằng tất cả đả nằm
trong bài hát ru con mà mẹ tôi đã ru tôi trên đôi tay gầy nho nhỏ và đã
in vào ánh mắt mà mẹ tôi ban cho tôi thuở thiếu thời, đã lắng trong tâm
hồn tôi.
Trần Thị NgH [bút danh khác là Thọ Diên] tên thật là Trần Thị Nguyệt
Hồng, sinh 18/4/1949 tại An Xuyên, Cà Mau. Năm mười tuổi bắt đầu đọc
thơ. Bắt đầu viết văn từ năm 1968.
“Chủ nhật” là truyện ngắn đầu tiên đăng trên Vấn đề năm 1970. Sau đó, lần lượt các truyện ngắn xuất hiện trên nhiều tạp chí khác nhau, như: “Nhà có cửa khóa trái” (Văn, 1972; được đăng lại trong Tuyển tập Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta – hai mươi năm văn học miền Nam 1954 – 1973, [gồm 45 nhà văn], Sóng xuất bản, 1974), “Những ngày rất thong thả” (Văn, 1972), “Hè tiếp tục” (Văn, số xuân năm 1973), “Khoan điệu” (Thời tập, số 15, 1974)… Sau 1975, truyện ngắn của chị tiếp tục xuất hiện trên các tạp chí Thư quán, Da màu, Người Việt, Ăn mày văn chương… Các sách đã xuất bản của chị gồm có: Những ngày rất thong thả (Trí Đăng xuất bản,SàiGòn,1975;Truyện ngắn Trần Thị NgH (Nxb.Văn nghệ, California, Mỹ, 1999); Nhà có cửa khóa trái (Nxb. Văn nghệ, Mỹ, 1999); Lạc đạn và mười truyện ngắn (Nxb. Thời Mới, Toronto, Canada, 2000), Nhăn rúm (Thi văn Hồng Lĩnh xuất bản, Pháp, 2012), và ba tập truyện Nhăn rúm, Nhà có cửa khóa trái, Lạc đạn (Phương Nam liên kết Nxb. Hội Nhà văn, Sài Gòn, 2013).
Lạc Đạn là một truyện vừa, được nhà văn Trần Thị NgH viết cách
đây hơn 40 năm, nhưng mãi tới năm 2000 mới xuất hiện đầu tiên trong tập
sách Lạc đạn và mười truyện ngắn, Nxb. Thời Mới, Toronto,
Canada, 2000 và hội ngộ cùng độc giả ở Sài Gòn với lần in thứ hai do
Phương Nam sách (2013). Truyện được viết từ năm 1968. Đặc biệt, sau
1968, dân chúng Sài Gòn bắt đầu chứng kiến cảnh chiến tranh ngay chính
trong thành phố, máy bay lượn trên đầu khắp mọi quận huyện và lệnh tổng
động viên bắt đàn ông phải đi lính. Hầu hết gia đình nào cũng có người
đi lính. Các bà mẹ ủng hộ việc con trốn lính bằng cách giấu dưới hầm
hoặc nuôi trong lu, hoặc ủng hộ việc con hủy hoại thân thể (cắt ngón tay
cái hoặc hai đốt ngón trỏ của tay phải…) để khỏi bị đi lính. Và sau
rốt, người dân cảm thấy cuộc chiến kéo dài vô tận và không trông mong
điều gì được. Một người viết trẻ mới đôi mươi, không khỏi rúng động và
suy tư về sự tang thương ấy. Có lẽ, đây phần nào là lý do khiến Trần Thị
NgH bắt tay vào viết truyện vừa này. Vì vậy, “nó gần như tự truyện”.(1)
ANAHEIM, California (NV) – Một lần, tôi “vớ” được
tập thơ “Xem Đêm” của Phùng Cung, trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, hầu như
bài nào cũng lạ. Nhất là “lạ” về ngôn ngữ và hình ảnh.
Phùng Cung khi tả về một bến quê: “Tiếng gọi đò căng chỉ ngang sông.” (Hình minh họa: DEZALB/Pixabay)
Bài thơ “Xem Đêm” được làm chủ đề cho cả tập thơ, chỉ có chín câu như sau:
“Trở giấc xem đêm
Cuối trời trăng – mỏi
Trái gấc chín – ngập ngừng
Tóc rụng trạt lối đi
Trở giấc xem đêm
Thiên hà ngọc vụn
Gió thổi một mình
Mặt đất tròng trành
Ma hoa nhảy múa.”
Đọc kỹ những bài thơ của Phùng Cung, ta mới thấy lời thơ là những phê
phán chế độ bằng một ngôn ngữ tinh vi, sâu hiểm. Như bài thơ chủ đề
“Xem Đêm,” hai câu cuối là:
“Mặt đất tròng trành
Ma hoa nhảy múa”
Chúng ta cũng tự hiểu được một ý nghĩa là trong bóng đêm đen của dân tộc, chỉ có bọn chính quyền là ma mới nhảy múa được thôi.
Ngôn ngữ thơ của Phùng Cung dùng rất lạ.
Ta hãy đọc những câu thơ vô cùng xuất sắc của Phùng Cung khi tả về một bến quê:
“Tiếng gọi đò căng chỉ ngang sông”
Hay về thân phận một cánh bèo:
“Lênh đênh muôn dặm nước non
Dạt vào ao cạn vẫn còn lênh đênh”
Hay về một góc vườn:
“Cuối trời trăng mỏi
Trái gấc chín ngập ngừng”
Thơ Phùng Cung có những từ dùng về màu sắc. Có tới hàng trăm từ chỉ màu sắc, mà mỗi màu đều cho ta một sắc thái riêng.
Ví dụ như màu nắng có: “Nắng phơi rơm,” “nắng ngả tương,” “nắng bổ cau,” “nắng hẩy gió lên” và cả “nắng Âu Cơ” nữa.
Như màu trời: “Xanh châu chấu,” hay “xanh rau khúc.”
Nghệ thuật dùng chữ của Phùng Cung, trong “Xem Đêm” rất hay, rất kín, sâu, ngắn gọn, ấy là sự chắt lọc câu chữ, ý tứ hàm súc…
Nhà thơ Nguyễn Chu Nhạc viết trong bài “Đọc lại ‘Xem Đêm’ của Phung
Cung” trên báo Vanvn.vn như sau: “Tôi muốn đi sâu tìm hiểu sự ám ảnh,
hàm ý về một thân phận bị dập vùi mà vẫn gắng gỏi ngoi lên, loe lói sáng
như muốn chứng ninh cho sự trong sạch của bản thân… và không thể không
nói đến một điểm mạnh, ấy là nghệ thuật ngôn từ và tạo dựng không gian
thơ của Phùng Cung.”
Ngôn ngữ thơ của Phùng Cung trong bài “Chiều Soi Bãi” viết:
“Mặt trời hạ-thổ
Núi-giội-chàm
Đò chuyến cuối
Nhìn nhau nhọ mặt
Sữa con so ướt yếm
Thơm-mùi-khoai-luộc
Dốc bến tối gà
Đom đóm rối guồng-tơ-lửa
Nghe đêm trung giang thả-gió-gọi diều.”
Trong bài “Khói Cuối Năm”:
“Sương chiều nghe-lạnh bước chân
Khách áo cũ
Tìm về bạn cũ
Ai đốt rác lá tre bên ngõ
Lối đi dầy mùi khói-cuối-năm.”
Trong bài “Đêm Cuối Thu”:
“Chó sủa dông dài
Giò chuyển canh
Trái thị cuối thu
Thơm mùi trăng-úa
Ao khuya nước thở thì thầm.”
Tập thơ “Xem Đêm” của Phùng Cung. (Hình: Doanh Nhân Sài Gòn)
Và không ai còn ngây thơ cho rằng ngôn từ chỉ nằm trong lĩnh vực hình
thức nghệ thuật. Phải nói rằng “Phùng Cung đã đẻ ra nó bằng quặn thắt
một tấm lòng, hơn thế nữa, bằng ngót một đời người chìm nổi” (theo Xuân
Huy, giới thiệu tập thơ).
Ông Nguyễn Hữu Viện, bác sĩ, một nhà nghiên cứu văn học, từ Pháp về
làm việc với chính quyền Việt Nam, khi Phùng Cung chết, ông đã có những
lời thương tiếc như sau: “Kính hương hồn anh Phùng Cung… Nhà thơ như anh
quả là lương tâm của một giai đoạn lịch sử. Anh cùng đoàn tụ, đoàn viên
với những Tâm Hồn Thời Đại như Phùng Quán, Trần Dần. Văn học sử Việt
Nam sẽ ghi ơn mãi mãi những tấm gương trung liệt đã cầm bút viết lên Sự
Thật.”
Hiện nay, Trung Tâm “Dân Chủ Cho Việt Nam” ở Canada đã ấn hành một
tập sách về Phùng Cung gồm “Những Truyện Ngắn” của Phùng Cung, tập thơ
“Xem Đêm” và tập thơ “Trăng Ngục.” Tất cả được in trong cùng một tuyển
tập.
Xin đọc bài thơ “Vay Nóng” của Phùng Cung:
“Đất nước tôi
Triền miên bất hạnh
Tụi mặt dày – tay bẩn
Tim rắn – lời cừu
Văn hóa lớp hai
Điều hành cuộc sống
Tránh làm sao
Khỏi nát ngọc nhân quyền
Nhân danh một nạn nhân
Đứng giữa mênh mông
Cùm lim – rào kẽm
Khản cổ – chìa tay
Khấn xin những quốc gia
Văn minh – từ thiện
Cho dân Việt Nam tôi
Vay nóng chút nhân quyền.”
Nhà văn Nguyễn Đình Toàn từng nhận xét về Phung Cung, đăng trong nhật báo Người Việt, như sau: “Những
người đã từng bị ở tù Cộng Sản rồi, ở tù mà không biết vì sao, không
xét cử, không án lệnh, không biết bao giờ được tha, sẽ hiểu rằng sau một
năm, hai năm, và càng lâu hơn, người ta càng không còn để ý hay biết
đến ngày tháng nữa. Người ta tồn tại chứ không còn sống nữa. Và tồn tại
trong những điều kiện gần như không một con vật nào chịu đựng nổi, chẳng
hạn chỉ làm chứ không được ăn, đừng nói đến những cái khác.
Dấu hiệu duy nhất để con người biết mình còn sống trong những ngày địa ngục ấy là người ta còn suy nghĩ được.
Thơ Phùng Cung là những điều ông suy nghĩ trong những ngày như thế.”
Nhà văn, nhà thơ Phùng Cung
sinh ngày 18 Tháng Bảy, 1928, tại Kim Lân, Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Yên. Ông
tham gia kháng chiến chống Pháp từ năm 17 tuổi (1945) thoát ly lên chiến
khu Việt Bắc, mãi đến năm 1954 mới cùng với cơ quan là Hội Văn Nghệ trở
về Hà Nội.
Năm 1956, ông viết bài cho báo
Nhân Văn của ông Phan Khôi và Nguyễn Hữu Đang. Truyện “Con Ngựa Già Của
Chúa Trịnh” đăng trong Nhân Văn Giai Phẩm số 4, Tháng Mười, 1956, đã
đánh dấu một khúc quành của cuộc đời Phùng Cung, từ đó về sau, ông bị tù
không bản án.
Mặc dầu không “được” đem ra xử
như Nguyễn Hữu Đang, Thụy An và Trần Thiếu Bảo, nhưng ông đã bị đày hơn
12 năm trong các trại tù nổi tiếng tàn độc Việt Nam như Hỏa Lò (Hà Nội),
Bất Bạt (Sơn Tây), Yên Bình (Yên Bái), Phong Quang (Lào Cai).
Từ ngày nhận ra chân tướng của
đảng Cộng Sản Việt Nam và bản chất của chế độ, Phùng Cung đã ly khai hẳn
với chế độ, thà cất giấu những tác phẩm của mình chứ không bẻ cong ngòi
bút mà viết lên những điều trái với sự thật, trái với lương tâm.
Vì thế, Phùng Cung đã để lại 12
truyện ngắn chưa được xuất bản. Tập thơ “Xem Đêm” được xuất bản trong
nước vào năm 1995 gồm 200 bài thơ. Còn tập “Trăng Ngục” được Phùng Cung
sáng tác trong tù (1960-1972) chưa được công khai ra mắt độc giả.
Khi Phùng Cung qua đời năm
1997, những cơ quan truyền thông, báo chí ở Mỹ cũng rầm rộ nhắc tới sự
nghiệp văn chương của ông, nhất là vì một truyện ngắn “Con Ngựa Già Của
Chúa Trịnh” đăng trên báo Nhân Văn mà ông phải bị tù đày hơn 12 năm
(không bản án xét xử).
Các báo Văn, Khởi Hành, Talawas, Đàn Chim Việt đều có những bài tưởng niệm Phùng Cung.
Dực
đã đi rất đỗi nhẹ nhàng. Dực đang chỉ chạm khẽ mũi giầy vào bậc thang
gỗ. Cảm giác Dực đang bay. Bậc cầu thang nâu bóng mầu thời gian, nâu
bóng rêu phong những kiếp người hình trôn ốc. Có người đang nhìn Dực,
nhiều người đang nhìn Dực. Họ kinh ngạc trân trối ngóc đầu lên những bậc
cầu thang gỗ. Có phải tiếng động của gót giầy Dực không, hay âm thanh
phán lên niềm rắc rối nhịp đập trái tim? Xoáy xuống, xoáy tròn, hun hút
và tăm tối. Từ tầng ba xuống tầng một mà đi cả 27 năm trời chưa xuống
được tới nơi. Dực cười thầm ý nghĩ của mình. Hình như có âm thanh nào đó
đang trườn tới.
- Hôm nay thứ Hai mà Dực cũng đến Thư viện à?
Thứ Hai ư? Dực nhìn xuống đôi giầy của mình trước khi lướt mắt qua người đàn ông.
- Vâng, đúng rồi. Thứ Hai nên Dực mới đi giầy cao gót và mặc
bộ áo váy sang trọng này. Anh Dũng chưa nhìn thấy Dực đi giầy cao gót
bao giờ đúng không?
- Thì Dực chỉ đến đây vào chủ nhật, những hôm Dực mặc quần bò và đi giầy thấp, làm sao anh thấy được?
Người đàn ông thủ thư của phòng đọc. Anh ta đang nói về những
đôi giầy của Dực. Cao thấp, thấp cao ảnh hưởng gì đến cuộc đời anh ta,
ảnh hưởng gì đến những cuốn sách mối mọt mà anh ta đang cất giữ?
- Bao nhiêu người đang nhìn em đấy. Đôi giầy cao gót của em gõ vọng cả sáu tầng nhà Thư viện Quốc gia.