Thứ Năm, 30 tháng 12, 2021

HOA THIÊN LÝ - Duyên Anh

 Lá thiên lý là gì với tác dụng của lá thiên lý và cách dùng hiệu quả cao


Mẹ tôi yêu hoa thiên lý như yêu chồng con. Chả biết mầu xanh dìu dịu của lá vả hương thơm nhẹ nhàng của hoa thiết tha là bao mà mẹ tôi âu yếm nó thế.

Thường thường mẹ tôi trồng từng khóm. Mẹ bắc khum khum một cái giàn. Chiều chiều mẹ xách nước tưới vào gốc cho cây chóng lớn. Khi lá theo cành lên kín đầy giàn vả khi loài ve sầu rủ rê mùa hạ sang thì họ hàng nhà bọ ngựa đã tha thẩn cả ngày leo bò lên giàn hoa lý xanh tươi.

Đối với tôi hồi còn bé có lẽ cây ổi chĩu nặng quả chín còn thú vị hơn giàn hoa thiên lý của mẹ. Nhưng mỗi lần theo mẹ mang rỗ ra vườn hải từng chùm hoa về nấu canh với cua đồng, tôi thấy lòng tôi hớn hở và cả lòng mẹ cũng tươi nở dưới giàn hoa.

- Hoa thiên lý nấu với cua đồng ngon lắm cơ con ạ !

- Mùi nó làm sao ấy mẹ ạ ! Con ghét giàn hoa của mẹ ghê đi ấy, cây gì lại cây chẳng có quả. Mai con chặt nó đi mẹ nhé !

- Hư nào, tại con chưa biết ăn thì đừng bảo nó làm sao à ? Hôm nay con thử ăn mà xem, ngọt ngọt là.

- Ngọt như kẹo dồi chó không hở mẹ ?

Mẹ tôi cười đăm đăm nhìn tôi. Tia mắt hiền hòa ấy như tiếng ru muôn đời có bao giờ định nghĩa được, nên ngày nay dù tôi không nhớ hết kỷ niệm huy hoàng của thời thơ ấu thì tôi vẫn tự nhủ rằng tất cả đả nằm trong bài hát ru con mà mẹ tôi đã ru tôi trên đôi tay gầy nho nhỏ và đã in vào ánh mắt mà mẹ tôi ban cho tôi thuở thiếu thời, đã lắng trong tâm hồn tôi. 

Vàng Phố Hội An - Lê Văn Trung

Everything You Need to Eat and Drink in Hoi An, Vietnam

 

 

Vàng Phố Hội An


Phố quanh năm phố vàng áo thu
Những con đường nhỏ nằm bên nhau
Vói tay là chạm bờ vai ấm
Chân Cẩm Kim lòng đã Chùa Cầu
 
Chèo chưa khua thuyền đã sang bờ
Sông nằm im - sông nằm như mơ
Hình như con sóng còn im ngủ
Mây soi mềm như trời giăng tơ
 
Phố trong tôi như bài học thuộc lòng
Những vỉa hè hàng quán thân quen
Có ai qua phố mà không nhớ
Bàn chân bữa trước còn thơm hương
 
Phố trong tôi như một người tình
Phố vàng thu mà lòng ngát xuân
Mười lăm năm trở về qua phố
Phố vẫn hoàng thu áo lụa vàng.

 

 

Lần Trang Sách Cũ

 


Đêm ngồi lần mở từng trang sách

Chữ nghĩa cơ hồ đã phủ rêu

Ta thắp lòng soi nhòe vết mực

Người xưa lệ nhỏ ướt câu Kiều

 

Dòng sông tiềm thức chừng xao động

Vỗ mãi bờ xa cũng bạc đầu

Ai thả trôi theo mùa nước lũ

Nỗi niềm hoài cổ chảy về đâu?

 

Đêm ngồi lần mở từng trang sách

Thoáng bóng người về khóc dưới trăng

Cung kiếm rỉ hoen màu tang hải

Lòng ai lòng Bà Huyện Thanh Quan

 

Xin khắc vào tim lời tuế nguyệt

Câu thơ bầm máu lệ tiền nhân

Cúi xin ân sủng trời vô lượng

Thiên hạ nằm mơ chuyện thái bình.

 

 

Lê Văn Trung

(Viên Hướng gởi từ Úc) 


Đọc "Lạc đạn" của Trần Thị NgH - Hồ Liễu

Cổ Ngư Trò Chuyện Với Trần Thị NgH. - Phê Bình. Biên Khảo. Phỏng Vấn - Du  Tử Lê

 clip_image001

 

Trần Thị NgH [bút danh khác là Thọ Diên] tên thật là Trần Thị Nguyệt Hồng, sinh 18/4/1949 tại An Xuyên, Cà Mau. Năm mười tuổi bắt đầu đọc thơ. Bắt đầu viết văn từ năm 1968.

“Chủ nhật” là truyện ngắn đầu tiên đăng trên Vấn đề năm 1970. Sau đó, lần lượt các truyện ngắn xuất hiện trên nhiều tạp chí khác nhau, như: “Nhà có cửa khóa trái” (Văn, 1972; được đăng lại trong Tuyển tập Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta – hai mươi năm văn học miền Nam 1954 – 1973, [gồm 45 nhà văn], Sóng xuất bản, 1974), “Những ngày rất thong thả” (Văn, 1972), “Hè tiếp tục” (Văn, số xuân năm 1973), “Khoan điệu” (Thời tập, số 15, 1974)… Sau 1975, truyện ngắn  của chị tiếp tục xuất hiện trên các tạp chí Thư quán, Da màu, Người Việt, Ăn mày văn chương… Các sách đã xuất bản của chị gồm có: Những ngày rất thong thả (Trí Đăng xuất bản,SàiGòn,1975;Truyện ngắn Trần Thị NgH (Nxb.Văn nghệ, California, Mỹ, 1999); Nhà có cửa khóa trái (Nxb. Văn nghệ, Mỹ, 1999); Lạc đạn và mười truyện ngắn (Nxb. Thời Mới, Toronto, Canada, 2000), Nhăn rúm (Thi văn Hồng Lĩnh xuất bản, Pháp, 2012), và ba tập truyện Nhăn rúm, Nhà có cửa khóa trái, Lạc đạn (Phương Nam liên kết Nxb. Hội Nhà văn, Sài Gòn, 2013).

Lạc Đạn là một truyện vừa, được nhà văn Trần Thị NgH viết cách đây hơn 40 năm, nhưng mãi tới năm 2000 mới xuất hiện đầu tiên trong tập sách Lạc đạn và mười truyện ngắn, Nxb. Thời Mới, Toronto, Canada, 2000 và hội ngộ cùng độc giả ở Sài Gòn với lần in thứ hai do Phương Nam sách (2013). Truyện được viết từ năm 1968. Đặc biệt, sau 1968, dân chúng Sài Gòn bắt đầu chứng kiến cảnh chiến tranh ngay chính trong thành phố, máy bay lượn trên đầu khắp mọi quận huyện và lệnh tổng động viên bắt đàn ông phải đi lính. Hầu hết gia đình nào cũng có người đi lính. Các bà mẹ ủng hộ việc con trốn lính bằng cách giấu dưới hầm hoặc nuôi trong lu, hoặc ủng hộ việc con hủy hoại thân thể (cắt ngón tay cái hoặc hai đốt ngón trỏ của tay phải…) để khỏi bị đi lính. Và sau rốt, người dân cảm thấy cuộc chiến kéo dài vô tận và không trông mong điều gì được. Một người viết trẻ mới đôi mươi, không khỏi rúng động và suy tư về sự tang thương ấy. Có lẽ, đây phần nào là lý do khiến Trần Thị NgH bắt tay vào viết truyện vừa này. Vì vậy, “nó gần như tự truyện”.(1)

Thứ Tư, 29 tháng 12, 2021

‘Xem Đêm,’ một tập thơ lạ của Phùng Cung - Trần Yên Hòa

Xem đêm by Phùng Cung


ANAHEIM, California (NV) – Một lần, tôi “vớ” được tập thơ “Xem Đêm” của Phùng Cung, trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, hầu như bài nào cũng lạ. Nhất là “lạ” về ngôn ngữ và hình ảnh.

 

Phùng Cung khi tả về một bến quê: “Tiếng gọi đò căng chỉ ngang sông.” 
(Hình minh họa: DEZALB/Pixabay)

 

Bài thơ “Xem Đêm” được làm chủ đề cho cả tập thơ, chỉ có chín câu như sau:

“Trở giấc xem đêm
Cuối trời trăng – mỏi
Trái gấc chín – ngập ngừng
Tóc rụng trạt lối đi

Trở giấc xem đêm
Thiên hà ngọc vụn
Gió thổi một mình
Mặt đất tròng trành
Ma hoa nhảy múa.”

Đọc kỹ những bài thơ của Phùng Cung, ta mới thấy lời thơ là những phê phán chế độ bằng một ngôn ngữ tinh vi, sâu hiểm. Như bài thơ chủ đề “Xem Đêm,” hai câu cuối là:

“Mặt đất tròng trành
Ma hoa nhảy múa”

Chúng ta cũng tự hiểu được một ý nghĩa là trong bóng đêm đen của dân tộc, chỉ có bọn chính quyền là ma mới nhảy múa được thôi.

Ngôn ngữ thơ của Phùng Cung dùng rất lạ.

Ta hãy đọc những câu thơ vô cùng xuất sắc của Phùng Cung khi tả về một bến quê:

“Tiếng gọi đò căng chỉ ngang sông”

Hay về thân phận một cánh bèo:

“Lênh đênh muôn dặm nước non
Dạt vào ao cạn vẫn còn lênh đênh”

Hay về một góc vườn:

“Cuối trời trăng mỏi
Trái gấc chín ngập ngừng”

Thơ Phùng Cung có những từ dùng về màu sắc. Có tới hàng trăm từ chỉ màu sắc, mà mỗi màu đều cho ta một sắc thái riêng.

Ví dụ như màu nắng có: “Nắng phơi rơm,” “nắng ngả tương,” “nắng bổ cau,” “nắng hẩy gió lên” và cả “nắng Âu Cơ” nữa.

Như màu trời: “Xanh châu chấu,” hay “xanh rau khúc.”

Nghệ thuật dùng chữ của Phùng Cung, trong “Xem Đêm” rất hay, rất kín, sâu, ngắn gọn, ấy là sự chắt lọc câu chữ, ý tứ hàm súc…

Nhà thơ Nguyễn Chu Nhạc viết trong bài “Đọc lại ‘Xem Đêm’ của Phung Cung” trên báo Vanvn.vn như sau: “Tôi muốn đi sâu tìm hiểu sự ám ảnh, hàm ý về một thân phận bị dập vùi mà vẫn gắng gỏi ngoi lên, loe lói sáng như muốn chứng ninh cho sự trong sạch của bản thân… và không thể không nói đến một điểm mạnh, ấy là nghệ thuật ngôn từ và tạo dựng không gian thơ của Phùng Cung.”

Ngôn ngữ thơ của Phùng Cung trong bài “Chiều Soi Bãi” viết:

“Mặt trời hạ-thổ
Núi-giội-chàm
Đò chuyến cuối
Nhìn nhau nhọ mặt
Sữa con so ướt yếm
Thơm-mùi-khoai-luộc
Dốc bến tối gà
Đom đóm rối guồng-tơ-lửa
Nghe đêm trung giang thả-gió-gọi diều.”

Trong bài “Khói Cuối Năm”:

“Sương chiều nghe-lạnh bước chân
Khách áo cũ
Tìm về bạn cũ
Ai đốt rác lá tre bên ngõ
Lối đi dầy mùi khói-cuối-năm.”

Trong bài “Đêm Cuối Thu”:

“Chó sủa dông dài
Giò chuyển canh
Trái thị cuối thu
Thơm mùi trăng-úa
Ao khuya nước thở thì thầm.”

 

Tập thơ “Xem Đêm” của Phùng Cung. 
(Hình: Doanh Nhân Sài Gòn)

 

Và không ai còn ngây thơ cho rằng ngôn từ chỉ nằm trong lĩnh vực hình thức nghệ thuật. Phải nói rằng “Phùng Cung đã đẻ ra nó bằng quặn thắt một tấm lòng, hơn thế nữa, bằng ngót một đời người chìm nổi” (theo Xuân Huy, giới thiệu tập thơ).

Ông Nguyễn Hữu Viện, bác sĩ, một nhà nghiên cứu văn học, từ Pháp về làm việc với chính quyền Việt Nam, khi Phùng Cung chết, ông đã có những lời thương tiếc như sau: “Kính hương hồn anh Phùng Cung… Nhà thơ như anh quả là lương tâm của một giai đoạn lịch sử. Anh cùng đoàn tụ, đoàn viên với những Tâm Hồn Thời Đại như Phùng Quán, Trần Dần. Văn học sử Việt Nam sẽ ghi ơn mãi mãi những tấm gương trung liệt đã cầm bút viết lên Sự Thật.”

Hiện nay, Trung Tâm “Dân Chủ Cho Việt Nam” ở Canada đã ấn hành một tập sách về Phùng Cung gồm “Những Truyện Ngắn” của Phùng Cung, tập thơ “Xem Đêm” và tập thơ “Trăng Ngục.” Tất cả được in trong cùng một tuyển tập.

Xin đọc bài thơ “Vay Nóng” của Phùng Cung:

“Đất nước tôi
Triền miên bất hạnh
Tụi mặt dày – tay bẩn
Tim rắn – lời cừu
Văn hóa lớp hai
Điều hành cuộc sống
Tránh làm sao
Khỏi nát ngọc nhân quyền

Nhân danh một nạn nhân
Đứng giữa mênh mông
Cùm lim – rào kẽm
Khản cổ – chìa tay
Khấn xin những quốc gia
Văn minh – từ thiện
Cho dân Việt Nam tôi
Vay nóng chút nhân quyền.”

Nhà văn Nguyễn Đình Toàn từng nhận xét về Phung Cung, đăng trong nhật báo Người Việt, như sau: “Những người đã từng bị ở tù Cộng Sản rồi, ở tù mà không biết vì sao, không xét cử, không án lệnh, không biết bao giờ được tha, sẽ hiểu rằng sau một năm, hai năm, và càng lâu hơn, người ta càng không còn để ý hay biết đến ngày tháng nữa. Người ta tồn tại chứ không còn sống nữa. Và tồn tại trong những điều kiện gần như không một con vật nào chịu đựng nổi, chẳng hạn chỉ làm chứ không được ăn, đừng nói đến những cái khác.

Dấu hiệu duy nhất để con người biết mình còn sống trong những ngày địa ngục ấy là người ta còn suy nghĩ được.

Thơ Phùng Cung là những điều ông suy nghĩ trong những ngày như thế.” 

Trần Yên Hòa [qd]

(từ: nguoi-viet.com)

‘Xem Đêm,’ một tập thơ lạ của Phùng Cung


Nhà văn, nhà thơ Phùng Cung sinh ngày 18 Tháng Bảy, 1928, tại Kim Lân, Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Yên. Ông tham gia kháng chiến chống Pháp từ năm 17 tuổi (1945) thoát ly lên chiến khu Việt Bắc, mãi đến năm 1954 mới cùng với cơ quan là Hội Văn Nghệ trở về Hà Nội.

Năm 1956, ông viết bài cho báo Nhân Văn của ông Phan Khôi và Nguyễn Hữu Đang. Truyện “Con Ngựa Già Của Chúa Trịnh” đăng trong Nhân Văn Giai Phẩm số 4, Tháng Mười, 1956, đã đánh dấu một khúc quành của cuộc đời Phùng Cung, từ đó về sau, ông bị tù không bản án.

Mặc dầu không “được” đem ra xử như Nguyễn Hữu Đang, Thụy An và Trần Thiếu Bảo, nhưng ông đã bị đày hơn 12 năm trong các trại tù nổi tiếng tàn độc Việt Nam như Hỏa Lò (Hà Nội), Bất Bạt (Sơn Tây), Yên Bình (Yên Bái), Phong Quang (Lào Cai).  

Từ ngày nhận ra chân tướng của đảng Cộng Sản Việt Nam và bản chất của chế độ, Phùng Cung đã ly khai hẳn với chế độ, thà cất giấu những tác phẩm của mình chứ không bẻ cong ngòi bút mà viết lên những điều trái với sự thật, trái với lương tâm.   

Vì thế, Phùng Cung đã để lại 12 truyện ngắn chưa được xuất bản. Tập thơ “Xem Đêm” được xuất bản trong nước vào năm 1995 gồm 200 bài thơ. Còn tập “Trăng Ngục” được Phùng Cung sáng tác trong tù (1960-1972) chưa được công khai ra mắt độc giả.

Khi Phùng Cung qua đời năm 1997, những cơ quan truyền thông, báo chí ở Mỹ cũng rầm rộ nhắc tới sự nghiệp văn chương của ông, nhất là vì một truyện ngắn “Con Ngựa Già Của Chúa Trịnh” đăng trên báo Nhân Văn mà ông phải bị tù đày hơn 12 năm (không bản án xét xử).

Các báo Văn, Khởi Hành, Talawas, Đàn Chim Việt đều có những bài tưởng niệm Phùng Cung.

Thứ Ba, 28 tháng 12, 2021

Những Sợi Tóc Màu Tang Lễ - Đỗ Hoàng Diệu

 



Tranh Đinh Trường Chinh – Ước Mơ | Trần Thị Nguyệt Mai
 
tranh đinh trường chinh

 

Dực đã đi rất đỗi nhẹ nhàng. Dực đang chỉ chạm khẽ mũi giầy vào bậc thang gỗ. Cảm giác Dực đang bay. Bậc cầu thang nâu bóng mầu thời gian, nâu bóng rêu phong những kiếp người hình trôn ốc. Có người đang nhìn Dực, nhiều người đang nhìn Dực. Họ kinh ngạc trân trối ngóc đầu lên những bậc cầu thang gỗ. Có phải tiếng động của gót giầy Dực không, hay âm thanh phán lên niềm rắc rối nhịp đập trái tim? Xoáy xuống, xoáy tròn, hun hút và tăm tối. Từ tầng ba xuống tầng một mà đi cả 27 năm trời chưa xuống được tới nơi. Dực cười thầm ý nghĩ của mình. Hình như có âm thanh nào đó đang trườn tới.

- Hôm nay thứ Hai mà Dực cũng đến Thư viện à?

Thứ Hai ư? Dực nhìn xuống đôi giầy của mình trước khi lướt mắt qua người đàn ông.

- Vâng, đúng rồi. Thứ Hai nên Dực mới đi giầy cao gót và mặc bộ áo váy sang trọng này. Anh Dũng chưa nhìn thấy Dực đi giầy cao gót bao giờ đúng không?

- Thì Dực chỉ đến đây vào chủ nhật, những hôm Dực mặc quần bò và đi giầy thấp, làm sao anh thấy được?

Người đàn ông thủ thư của phòng đọc. Anh ta đang nói về những đôi giầy của Dực. Cao thấp, thấp cao ảnh hưởng gì đến cuộc đời anh ta, ảnh hưởng gì đến những cuốn sách mối mọt mà anh ta đang cất giữ?

- Bao nhiêu người đang nhìn em đấy. Đôi giầy cao gót của em gõ vọng cả sáu tầng nhà Thư viện Quốc gia.

Chuyện Tình Vượt Biên - Trần Yên Hòa

    Sau ngày tan hàng, dân chúng miền Nam như rắn mất đầu, lạng qua lạng quạng không biết làm gi để kiếm sống. Ngày trước, nhân viên, công...